Từ một góc nhìn

''Huế là một thành phố đã biết sống nhờ hương hỏa'', câu nói đầy ý vị và sâu xa đó là của anh Nguyễn Văn Tâm, một giáo viên người Quảng Trị đang công tác tại trường Cao đẳng Sư phạm Phú Yên, hiện đang theo học cao học tại trường Ðại học Sư phạm Huế, nói với tôi trong lúc cùng ngồi nhàn đàm tại quán cóc bán nước mía ở Huế, chờ thành phố sáng đèn để trẩy hội vào Ngọ Môn đón giờ Festival Huế 2002 khai mạc và đăng quang.

Hơn lúc nào hết, lòng chúng tôi lúc này dâng lên thấm thía vô bờ niềm cảm ơn ông cha đã để lại một di sản vang bóng, một hương hỏa nồng đượm cho người Huế thay mặt cả nước giữ gìn, gánh vác, khai thác, tạo sức lan tỏa và phát sáng của vẻ đẹp di sản Huế.

"Ðêm thấy ta là thác đổ”

Giờ Festival Huế 2002 đăng quang đã điểm. Từ Ngọ Môn, những chùm tia sáng màu xanh huyền ảo đã phóng chiếu lên bầu trời đêm biếc của Huế, khiến cho cả trời Huế lung linh như có phép màu. Tuổi thơ là cái tuổi vốn có nhiều nhạy cảm với phép màu. Nếu không như thế sao có nhiều em nhỏ chen chúc quanh tôi trên đường đến Ngọ Môn cứ mê mải trầm trồ trước những chùm sáng lung linh: “Ồ! Tia la-ze". Tôi chợt tức cười, và không nỡ cãi các em, dù chỉ là cãi thầm, vì sợ làm tan đi cái ý nghĩ thơ ngộ của các em. Tia la-ze, tia huyền ảo, nhiệm màu nào thì cũng thế, cũng giống nhau ở chỗ: đều là những tia không thấy được vào những lúc bình thường. Hóa ra, các em cũng có lý đấy chứ. Cả thành phố, người đi bộ đông hơn người đi xe, do vậy xe cộ phải chạy chậm hơn, vì còn nhường đường cho người đi bộ. Lâu lắm rồi, kể cũng đă mười bốn năm rồi, tôi mới lại “được đi bộ” trên đường phố Huế một quãng dài như vậy, từ bờ nam sang bờ bắc sông Hương, vào Ngọ Môn, đi bộ như cái thời còn là sinh viên khó nghèo ở Huế, tôi đã từng bươn bả, tất tả đi. Cái cảm giác thích thú, làm vơi đi mệt nhọc bộ hành, mà tôi hằng có thuở sinh viên, những lúc cuốc bộ trông cho chóng đến thư viện trường đại học để được lần giở những bộ sách quý, cái cảm giác phấn hứng đó tôi đă thấy lại được khi đêm Ngọ Môn mở ra những trang đầu của một Festival hấp dẫn. Trên không gian của quảng trường Ngọ Môn, từ đền đài đến cỏ cây đều phát sáng, làm thức dậy hồn xưa di tích trong hào quang hiện đại của Huế thời đổi mới. Trên sân khấu biểu diễn nghệ thuật hoành tráng trước Ngọ Môn, có trống hội Thăng Long ngàn năm văn vật vang vọng hào sảng, có tiếng đàn Tơ-rưng Tây Nguyên trong trẻo, trữ tình, có những cánh diều chở đầy ước mơ cổ tích của các em thơ bé bỏng đến từ thành phố Hồ Chí Minh. Xâu chuỗi các lớp diễn nghệ thuật, tôi đọc ra một thông điệp nói về tính kế tục, tiếp nối giữa các thế hệ. Có lớp người cây cao bóng cả nâng đỡ cho những cánh diều tuổi thơ. Tôi chỉ thầm ước một điều rằng, giá mà đêm khai mạc hội tụ thêm nhiều lớp diễn các lễ hội đặc sắc của ba miền Bắc - Trung - Nam để làm nổi rõ hơn nữa cái bản sắc văn hóa dân tộc đậm đà. Và tôi còn ước thêm một điều rằng trên quảng trường Ngọ Môn rộng rãi, bên những người ngồi trên khán đài và những người ngồi trên các dãy ghế nhựa, có nhiều lớp lớp người người phải đứng sát sát bên nhau toát mồ hôi cùng kiễng chân ngước cổ mới dõi theo được các màn diễn ngoạn mục trên sân khấu, giá mà những lớp người này có chỗ ngồi, hẳn là không gian Ngọ Môn sẽ thoáng đăng hơn, bớt cảnh chen chúc chật chội. Dĩ nhiên, những người đứng không xem trực tiếp trên sân khấu được thì xem qua những màn hình lớn truyền hình trực tiếp được dựng trên sân bãi, nhưng đêm Ngọ Môn sáng lóa đã làm vơi nhạt đi ít nhiều những hình ảnh trên màn hình. Nhưng tôi lại thầm nghĩ, những Festival đầu tiên chưa thể quá cầu toàn.

Ðường phố Huế lúc đón giờ khai mạc Festival dẫu đông người nhưng còn dễ đi, lúc đêm khai mạc kết thúc, hàng ngàn người từ Ngọ Môn đã ùa ra chật cứng các cửa thành nội, khiến cho việc đi lại càng khó hơn. Dòng người dường như không đi nữa mà chảy dần dần, mà tuôn dần dần, trào dần dần từ Ngọ Môn ra các ngả đường phố Huế, qua cầu Phú Xuân, cầu Trường Tiền. Cùng chảy miên man trong dòng người bất tận đó, bất chợt từ trong tận cùng tâm cảm của tôi bỗng vẳng lên câu hát mộng mị vang ngân: "Nhiều đêm thấy ta là thác đổ, tỉnh ra có khi còn nghe" (Ðêm thấy ta là thác đổ - Trịnh Công Sơn). Trên hình hài uốn lượn diễm lệ của cầu Trường Tiền những đêm hội Festival, ánh sáng phủ lên chảy tràn như thác, với nhiều sắc màu xanh, đỏ tím, vŕng. Cầu Trường Tiền liên tục đổi màu như một thiếu nữ kiêu sa thay nhiều lần áo mới nhưng trong thẩm cảm vốn hạn hẹp và đầy chủ quan của tôi, tôi vẫn ước giá mà cầu Trường Tiền được pha bớt đi màu gắt chỉ để lại những màu dìu dịu, như thế mới hợp với nữ tính của dòng Hương. "Con sông giùng giằng con sông không chảy" (Thu Bồn). Chẳng hạn, màu tím cần được đặc tả hơn trên hình hài cầu Trường Tiền, cần được pha sáng hơn để không bị chìm trong màu thẫm của đêm. Từ đó, Huế vốn đã đẹp trong những chiều tím, Huế càng dịu dàng, duyên dáng hơn trong những đêm tím. Xứ Huế chính là nơi ở tuyệt vời của "nhân loại tím" (nói theo ngôn ngữ của nhà thơ Trần Dần) vậy. Ý tưởng đưa thời trang áo dài Việt Nam ra biểu diễn trên cầu Trường Tiền là một ý tưởng đẹp và thơ, táo bạo và lãng mạn. Giá mà đêm diễn có nhiều thiếu nữ Huế đẹp hơn, đẹp đến nhói lòng khán giả trong “nỗi đau tình cờ”, mới xứng đáng với cái ý tưởng lãng mạn đáo để đó.

Lang thang với Festival Huế 2002, cái lăng kính nhân bản cần phải luôn luôn có của một người cầm bút khiến tôi cứ trăn đi trở lại với một câu hỏi: đại đa số những người lao động, nhất là những người lao động nghèo họ thụ hưởng được gì từ Festival, khi túi tiền mỏng của họ còn "bất cập" với giá vé Festival. Có người bảo giá vé Festival lần này đắt, đắt hơn lần trước (vé xem áo dài Minh Hạnh là 70.000 đồng). Có người bảo giá vé như thế là tương ứng với giá trị phong phú của các chương trình mở ra, nào biểu diễn Kinh kịch trung Quốc, nào múa Ea Sola (Pháp - Việt), nào vũ kịch Nhật Bản, nào Royal de Luxe (Pháp). Tôi không luận bàn giá vé đắt rẻ, tôi chỉ mong sao ngày càng có nhiều người lao động mua được vé xem Festival. trong khi chưa mua được vé Festival, những người lao động nghèo nhờ được gì ở Festival? Trong một đêm khuya ở Huế, sau khi đã cùng người Huế sống những “đêm thấy ta là thác đổ” trở về mệt nhoài, tôi tạt vào một quán bán cơm hến, bún hến số 4 Trương Ðịnh - Huế. Vừa nhấm nháp cái vị cay cay, bùi bùi của bún hến, tôi vừa tranh thủ bắt chuyện với anh chủ quán:

- Quán mình bán có đắt khách hơn ngày thường không anh và hơn thì hơn mấy lần?- Ðắt khách hơn cả ngày Tết - Chủ quán phấn khởi trò chuyện - Tính ra tôi bán gấp 2, gấp 3 lần ngày thường và không đủ sức để phục vụ, đôi khi đành phải từ chối khách.

- Sao anh không thuê thêm người phục vụ?

- Thêm người phục vụ thì phải trả thêm tiền công. Tính ra cũng từng đó, chi bằng mình gắng sức vậy.

À ra đấy là cách tính năng nhặt chặt bị, lấy công làm lãi của hộ kinh doanh nhỏ. Trong một lần khác, lúc tôi đang dựng xe trước một hiệu ảnh trên đường Hùng Vương chờ một anh bạn người Huế tráng ảnh nhanh về Festival, có mấy anh làm nghề đạp xích lô kiêm thêm việc dẹp trật tự đường sá đến hướng dẫn tôi dắt xe dựng sâu trong đường hẻm. Được tôi hỏi chuyện về những thu nhập bất thường do Festival mang lại cho cánh xe thồ, anh Hoàng Trọng Tiến, chủ xe xích lô tâm sự: "Ngày thường, chúng tôi kiếm được từ 20-25 ngàn đồng. Nhờ khách Festival đông, chúng tôi kiếm được 50 ngàn đồng/ngày". Tôi hỏi thêm: "Các anh có đi xem Festival được không?” Anh Vĩnh Cương, một lái xe xích lô đứng cạnh cười đáp : “Giá vé Festival lần này tăng, đi xem cũng hơi bị sợ vợ... rằn. Gắng để chạy nhiều chuyến để vợ đỡ... rằn”. Vậy là hiệu quả Festival mang lại thấy rõ nhất, ngoài việc làm vinh danh tiếng tăm văn hóa Huế trên trường quốc tế (cũng có nghĩa là làm kinh tế bằng văn hóa) còn có việc tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo thêm thị trường dịch vụ cho các kinh doanh. Vào hội chợ Festival Huế 2002 mở tại công viên Thương Bạc, có cảm giác như bị vây bủa bởi cơ man các chủng loại hàng hóa, hầu như gian hàng nào cũng khuyến mại bằng cách thưởng cho người mua hàng nhiều. Hàng Quảng Trị tham gia tại hội chợ này, món truyền thống có rượu Xi-ka Kim Long (có chai ghi giá đến 50 nghìn đồng/chai), món đầu tư nước ngoài có nước uống tăng lực Super Horse sản xuất tại khu thương mại Lao Bảo. Ðáng chú ý, tại hội chợ, có mặt hàng được tiếp thị ngay bằng cách tặng mà không đòi hỏi phải mua hàng trước đã. Vừa chìa vé cho người xé vé tại cổng hội chợ, bạn sẽ được người soát vé đưa cho một tấm phiếu, mặt sau có ghi chú mấy dòng rằng hãy đến gian hàng bột giặt: "Vì Dân" để nhận quà tặng. Cầm tấm phiếu này, tôi đến gian hàng của Công ty bột giặt và hóa mỹ phẩm VICO, Hải Phòng để được nhận tặng một gói bột giặt còn ghi thêm một câu: "Phục vụ nhân dân là chính". Vì không phải phụ nữ nên tôi không rành lắm về chất lượng bột giặt, duy hai chữ "Vì Dân" quả là đầy ấn tượng. Vâng, hãy Vì Dân bằng hành động thiết thực nhất và Festival Huế 2002 là một nghĩa cử văn hóa Vì Dân một cách cao cả và hiệu quả.

Nguyễn Hoàn - Báo Quảng Trị số 1413
 
Các kỳ Festival Huế
Đăng ký nhận tin
---