Bước lên ngai vàng giữa tuổi 31, Khải Ðịnh say sưa với việc xây dựng cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc như điện Kiến Trung, Cung An Ðịnh, cửa Trường An, cửa Hiển Nhơn, cửa Chương Ðức và đặc biệt là Ứng Lăng.
Tọa lạc giữa một vùng quê tĩnh mịch thuộc thôn Thượng Hai, xã Thủy Xuân, thành phố Huế, nằm giữa khu lăng mộ của bà con quyến thuộc, trong đó có Lăng Thiệu Trị (ông nội), Lăng Tự Ðức (Bác ruột và cha nuôi). Ðồng Khánh qua đời trong khi chưa xây dựng được lăng mộ cho mình.
Sau khi vua Tự Ðức băng hà, triều thần đã đưa Ưng Chân lên ngai vàng vào ngày 19/7/1883, y theo di chiếu truyền ngôi của vua Tự Ðức. Chưa kịp đặt niên hiệu, vị vua trẻ được gọi tên dựa theo tư thất của mình là Dục Ðức Ðường.
Lăng Tự Ðức là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn. Ông vua giỏi thi phú Tự Ðức đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi vị của mình, phù hợp với sở nguyện của con người có học vấn uyên thâm và lãng tử bậc nhất trong hàng các vua chúa nhà Nguyễn.
Nằm ở địa phận làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy. Ðây là lăng duy nhất quay về hướng Tây Bắc, một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn. Lăng không có La thành bao bọc.
Ðược khởi công xây dựng từ năm 1840. Ông đổi tên núi Cẩm Kê thành núi Hiếu Sơn và gọi tên lăng là Hiếu Lăng. Tháng 1/1841 Minh Mạng băng hà trong khi lăng vẫn chưa hoàn thành. Vua Thiệu Trị lên ngôi, một tháng sau đã ra lệnh cho binh lính tiếp tục xây dựng theo đúng họa đồ của vua cha.
Xây dựng từ 1814 đến 1820, bao gồm một khu lăng rộng lớn với chu vi lên đến 11.234,40m; gồm những lăng sau:
Cách đây 80 năm, một người phương Tây, Ph.Eberhard đã viết: Huế là một trung tâm du lịch hấp dẫn, nơi có kinh thành, hoàng thành và lăng tẩm, có sức cuốn hút sự chú ý đặc biệt đối với du khách và các nhà mỹ thuật.