Công trình này được dựng từ năm 1825 trên hồ Học Hải, dùng làm nơi tàng trữ các công văn cũ của Lục bộ và các cơ quan của triều đình. Đây có thể coi là một trong những kho lưu trữ các tài liệu văn bản quý hiếm liên quan đến sinh hoạt của triều đình và biến đổi của đất nước. Chỉ riêng số địa bạ thời ...
Cung Diên Thọ ban đầu có tên là cung Trường Thọ, là một công trình kiến trúc được xây dựng từ năm 1802. Đến năm 1820, vua Minh Mạng đổi tên cung là Từ Thọ, vua Thành Thái đổi là Ninh Thọ năm 1901. Diên Thọ là tên cuối cùng do vua Khải Định đổi năm 1916. Cung Diên Thọ là nơi ở, sinh hoạt của các bà ...
Ðặt tại sân Thế Miếu, là sản phẩm độc đáo, tinh xảo, được Bộ Công đúc tại Huế từ cuối năm 1835-đầu 1837. Cửu Ðỉnh biểu hiện ước mơ về sự trường tồn mãi mãi của triều đinh nhà Nguyễn và sự giàu đẹp của đất nước. Ðiều đó được thể hiện rất rõ trong việc đặt tên gọi cũng như tầm vóc và các hoa văn chạm ...
Hiển Lâm Các là công trình kiến trúc cao nhất trong Hoàng Thành. Đây được coi như một đài lưu niệm ghi công những công thần đã sáng lập ra triều Nguyễn. Hiển Lâm Các được xây dựng phía trước Thế Miếu, phía tây nam Hoàng Thành, từ năm 1821 đến năm 1822 dưới thời vua Minh Mạng.
Thế Miếu hay còn được gọi là Thế Tổ Miếu là miếu thờ của các vị vua triều Nguyễn. Thế Miếu tọa lạc ở phía tây nam của Hoàng thành. Trước đây, nơi này chính là tòa Hoàng Khảo Miếu - miếu thờ ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long.
Trong phạm vị hoàng cung triều Nguyễn, Ðiện Thái Hòa là công trình kiến trúc quan trọng nhất xét về nhiều mặt: chức năng, vị trí, ý nghĩa lịch sử, giá trị văn hóa nghệ thuật. Ðiện Thái Hòa là địa điểm sinh hoạt quan trọng nhất của triều đình nhà Nguyễn.
Vừa là cổng chính, vừa là bộ mặt Ðại Nội, được xây dựng vào năm 1833 khi Minh Mạng cho quy hoạch lại mặt bằng và hoàn chỉnh hóa tổng thể kiến trúc trong Ðại Nội.
Kinh thành Huế được xây dựng gần 30 năm (từ 1803 đến 1832), là một dãy thành lũy dài cao 6,60m, dày 21m, với chu vi gần 9.000m. Trên mặt thành ngày xưa có tới 24 pháo đài. Bên ngoài, dọc theo bờ thành có hào sâu bảo vệ. Kinh thành liên lạc với bên ngoài qua 8 cửa trổ theo 8 hướng: Chính Ðông, Chính ...
Là một tôn giáo có số giáo dân đông vào hàng thứ 2 (sau Phật giáo) ở Thừa Thiên Huế, Thiên chúa Giáo có lịch sử du nhập và phát triển ở Ðàng Trong khá sớm. Trên địa bàn Thành phố Huế, ngôi giáo đường xuất hiện sớm nhất là nhà thờ Phường Ðúc (thế kỷ XVIII).
Thiên Mụ nằm soi bóng xuống dòng sông cách trung tâm thành phố Huế 7 km về phía Tây, tính từ cầu Phú Xuân. Đây là một trong những ngôi chùa cổ kính nhất của VN, là một biểu tượng của đất Thần kinh.
Chùa tọa lạc tại ấp Ngũ Tây làng An Cựu, bên trái núi Thiên Thai, nên có tên là Thiên Thai Thuyền Tôn tự, hay còn gọi là Thiên Thai nội tự, để phân biệt với Thiên Thai ngoại tự ở làng Dương Xuân.
Dừng chân ở giếng Hàm Long để tận hưởng những giây phút mát mẻ nhờ những gàu nước trong trẻo được kéo lên ở độ sâu hơn 4m, du khách sẽ thanh thản khi bước lên những bậc cấp vào chùa Báo Quốc trên đồi Hàm Long.
Tọa lạc trên một ngọn đồi thấp thuộc địa phận Phường Trường An. Chùa được lập khoảng năm 1684 có tên là Vĩnh Ân. Năm 1689 chúa Nguyễn Phúc Trăn ban "Sắc tứ Quốc Ân tự", từ đó chùa có tên là Quốc Ân. Mặc dầu không nằm trong loạt những ngôi quốc tự danh tiếng ở xứ Thuận Hoá-Phú Xuân-Huế như chùa Thiên ...
Chùa tọa lạc trên một khoảnh đất cao, rộng, bằng phẳng thuộc địa phận phường Trường An, cách trung tâm thành phố Huế 2 km về hướng nam. Mặt chùa hướng đông nam, trước có núi Kim Phụng làm án, bên phải giáp đường Điện Biên Phủ, bên trái có chùa Linh Quang và nhà thờ cụ Phan Bội Châu, phía sau có chùa ...
Nhắc đến Tỳ Bà Trang, người dân xứ Huế, người dân thành phố Hồ Chí Minh thường nhắc đến ông Nguyễn Hữu Ba và ngược lại khi nói đến ông Nguyễn Hữu Ba người ta lại kể về Tỳ Bà Trang. Ông sinh thành trên quê hương Triệu Phong (Quảng Trị). Lớn lên ông vào Huế học và thành tài. Ông xây dựng Tỳ Bà Trang ...